Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Kinh nghiệm quay phim với DSLR

Là một người trẻ với sở thích sử dụng DSLR để làm phim. Tham gia Tinh Tế cũng lâu nhưng ít khi viết bài, hôm nay em mạn phép chia sẻ một số những kinh nghiệm khi quay phim bằng DSLR của mình cho mọi người. Việc quay phim bằng DSLR có thể giúp chúng ta tiết kiệm điện nhiều tiền mua thiết bị, lại có thể tận dụng những ống kính, phụ kiện, thậm chí là body hiện có để thỏa đam mê của mình. Dưới đây là những gì em tìm hiểu được ở nhiều nguồn khác nhau, tự tay biên tập lại và chia sẻ với anh chị em. Mong được mọi người hưởng ứng và cùng nhau góp ý, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức về việc quay phim với DSLR nhé.

Phần 1: Dynamic range là gì. Và nó liên quan như thế nào đến việc quay phim bằng DSLR?​

Hiểu 1 cách đơn giản, Dynamic Range là “dải tần nhạy sáng”, tức là khoảng từ trắng nhất đến tối nhất mà cảm biến của máy ảnh có thể thu nhận được. Tức là nếu DynamicRange càng cao thì càng ít vùng bị cháy sáng và cháy tối (bết hình) nhìn thấy được trên màn hình. So với các máy quay HandiCam lởm lởm mà e vẫn dùng để quay phim đi thi, thì đây là cái hơn có thể gọi là đáng giá nhất của DSLR so với Handicam.

Về mặt kỹ thuật, DynamicRange (DR) của DSLR vào khoảng 10-11 stops (khi quay), tức là cảm biến của máy có thể thu giữ được những chi tiết ở những vùng sáng nhất và tối nhất cách nhau tới 11 stops. Để có thể so sánh rõ hơn, mắt người vào khoảng 16 stops, phim nhựa màu vào khoảng 15 stops, Arri Alexa khoảng 14.5 stops, RED Epic với chế độ HDRx thì đươc công bố là 16 stops (chưa thử chưa biết). Mấy con Handicam phò phò thì không con nào quá 6 stops

Tại sao lại nói đây là điểm đáng giá nhất của DSLR so với Handicam:

Đơn giản DR là điểm khác biệt, dễ nhận ra nhất bằng mắt người, khi đem so sánh giữa phim nhựa và Video. Và cái quan trọng hơn, DR là 1 trong những cái không thể thay đổi được trong hậu kỳ!!! (trừ khi sử dụng GreenScreen) Chính những đặc tính về DR trên của DSLR mà nó đang ngày càng Xã hội hóa phim ảnh (câu trích của Đặng Tiến Anh, một đàn anh trong lĩnh vực này mà em rất phục). Có DR gần hơn với chuẩn mực là phim nhựa.

Những hình ảnh được quay ra từ DSLR mặc định là có Contrast rất cao, hiểu đơn giản, thì nó không hề thích hợp cho công tác hậu kỳ (ở đây muốn nói đến việc “làm nó giống” với phim nhựa, cân lại màu sắc (Color Correction) và “chỉnh màu” (Color Grade)). Trước khi viết đến đây thì có rất nhiều người, trong đó có em, lẫn lộn giữa 2 khái niệm là Color Correction và Color Grade, cái này sẽ được nói rõ hơn trong bài viết sau.

Tại sao phim quay ra có Contrast cao thì lại không có lợi cho quá trình hậu kỳ?

Đầu tiên phải hiểu rõ, khả năng nén của DSLR là rất lởm (Dùng codec H.264, bitdepth 8bit, độ phân giải 4:2:0) nên sau khi quay ra từ DSLR, các chi tiết ở vùng sáng và vùng tối, sau khi qua bước NÉN bằng cách giảm độ tương phản thì chất lượng video của chúng ta nói chính xác là be bét! Nói dễ hiểu hơn thì chúng ta đã tự mình đánh mất đi rất nhiều chi tiết trong 1 frame hình (Chỗ sáng thì quá sáng, và chỗ tối thì lại tối đen như mực) khiến cho footage của ta vốn đã ở tình trạng thiếu chi tiết màu (do độ phân giải 4:2:0) lại càng thêm be bét với những chỗ đen trắng thất thường, mà nguyên nhân là do đâu, do dải tần nhạy sáng của DSLR chỉ được có thế, đòi hỏi thêm á, lấy đâu ra?

Có nguyên nhân, vậy giải pháp là gì?

Đơn giản thôi, ngay từ khâu quay phim, hãy quay ở một độ tương phản thấp. Độ tương phản thấp tức là bạn có thể lưu giữ được nhiều chi tiết ở vùng tối hơn, mà vẫn không làm mất đi chi tiết của vùng sáng. Hiểu đơn giản là, bạn vẫn có thể thấy được từng gợn mây, trong khi vẫn nhìn rõ được từng cọng tóc của diễn viên trong frame hình (chém gió đấy, để thấy từng cọng tóc thì DSLR chưa đủ sức=))). Ví dụ nhẹ nhàng và dễ hiểu hơn, là khi nấu canh, không ai nấu kiểu nêm thật mặn sau đó đổ thêm nước vào cả, canh ra sẽ lờ lợ tởm tởm thiếu đi vị ngọt đậm đà từ thịt và xương xD, cũng giống như việc không ai lại đi quay Contrast cao để rồi vào hậu kỳ giảm đi cả, vì như thế sẽ rất lờ lợ, nhất là khi chất lượng hình ảnh sau khi NÉN của DSLR đã ở mức tệ, thì việc giảm Contrast như 1 cách vứt đi cái footage vậy. Tóm lại, việc add thêm contrast vào sau khi quay sẽ đơn giản hơn rát nhiều việc bạn giảm bớt contrast trong khâu hậu kỳ.

Ok, nhược điểm đã rõ, vậy với DSLR làm thế nào để có thể quay ra được Contrast thấp, có DR rộng hơn và gần hơn với phim nhựa?

Đến lúc này thì câu trả lời sẽ đồng thời cho câu hỏi của nhiều người, tại sao lại sử dụng DSLR của CANON để quay phim hơn là của NIKON? Mấu chốt chính là nằm ở Picture Style có thể thay đổi thêm bớt được của các dòng DSLR Canon từ lởm khởm như 550D đến cao cấp như 1D-X. Đến lúc này, thì với những hiểu biết nhỏ bé của em, thì có 2 cách cơ bản để có thể quay ra những Footage có Contrast thấp (phù hợp cho hậu kỳ) và DR rộng (hơn 1 chút):

Thay đổi thông số mặc định của Picture Style: STANDARD (Đây là Profile có Contrast thấp nhất trong các Profile mặc định của Canon)

Thay đổi như nào, đơn giản thôi:

Sharpness: Giảm xuống thấp nhất: Mục đích là làm mịn hình ảnh, nhất là khi được quay với các lens L của Canon cho hình ảnh sắc nét, việc làm mịn 1 hình ảnh sắc nét có thể khiến hình ảnh của ta chuyển động được mượt mà hơn (cảm giác thôi xD).

Contrast: Giảm hết: Đúng mục đích ban đầu khi sờ vào Picture Style, nhằm lưu giữ được nhiều chi tiết ở vùng Shadow nhất có thể, mà vẫn không mất chi tiết ở vùng Highlight.

Saturation: Giảm đi 2 nấc: Làm cho màu sắc của Frame không bị quá rực rỡ, tạo cảm giác giống phim nhựa.

Color Tone: Tăng thêm 1 nấc hoặc giữ nguyên tùy mục đích sử dụng: Làm tổng thể cả hình ảnh ấm lên 1 chút, có lợi cho việc chỉnh màu da diễn viên sau này.

(Kinh nghiệm của anh Triệu Quang Huy chia sẻ trên Youtube)

Sử dụng Picture Profile của hãng thứ 3: Ở đây em gợi ý sử dụng CineStyles của Technicolor đơn giản vì nó MIỄN PHÍ. Việc sử dụng đơn giản hơn, cứ cài vào là chiến thôi, không phải thay đổi thông số nhiều như cách trên.

Thay đổi Profile Picture rồi, làm gì nữa?

Nhấn mạnh đầu tiên cho những người dùng các Profile Picture trên: Chống chỉ định đem đi quay gái teen xóa phông, đơn giản vì hình ảnh sau khi qua các profile low-contrast sẽ rất lừa mắt! Các em sẽ vặn lại ngay sao nhìn da em tởm thế này. Việc đầu tiên nhận thấy khi thay đổi các thông số và Profile như trên, chúng ta sẽ có được một hình ảnh rất phẳng, với Contrast rất thấp, nhưng bù lại cái chúng ta nhận được đáng giá hơn rất nhiều: Lưu giữ được đủ chi tiết ở vùng Shadow, trong khi vùng Highlight vẫn đủ chi tiết, nói tóm lại, sau khi quay bằng profile này, việc đầu tiên cần nghĩ đến trong khâu hậu kỳ là cộng thêm 1 chút contrast (có thể dùng Curves của AP, hay Colorista, hoặc Punch It của Mojo đều được), lúc đó hình ảnh của chúng ta sẽ rất “phim nhựa”. Đạt được mục đích ban đầu đề ra, và, không tốn kém.

--------------------------------------------------------------------------------------------​

Phần 2: Nhược điểm của video quay ra từ DSLR là gì? (1)​

Như đã nói, DSLR tuy là 1 cỗ máy tuyệt vời về mặt giá thành để có thể cho ra những thước phim có chất lượng tốt, tuy nhiên không nhiều người biết, hoặc chịu tìm hiểu về bản chất của vấn đề mà chỉ chăm chăm vào nào thì “nét mỏng”, nào thì độ phân giải “full HD”… Đó, vẫn luôn, và sẽ mãi là bề nổi của công tác làm phim bằng DSLR. Ít ai biết rằng, để có được những video chất lượng như của Film Ninja Pros đang làm với cái máy 5D Mark II thì mọi chuyện không hề đơn giản như vậy, bài viết sau đây sẽ cho mọi người những cái nhìn mới, toàn cảnh, theo 1 cách dễ hiểu nhất về việc làm phim bằng DSLR. Sao cho chất lượng sản phẩm đầu ra là tốt nhất, với chi phí nhỏ nhất khi đầu tư.

Về mặt kỹ thuật, các máy DSLR của Canon đến trước 1D-X ghi hình video ở định dạng Mpeg4/H.264 8bit, độ phân giải màu 4:2:0. Mọi người đều nghĩ các footage quay ra sẽ được ở độ phân giải 1080p với máy 5D Mark II (1 cỗ máy tuyệt vời) nhưng ít ai biết rằng, thực chất cỗ máy ấy chỉ cho ra độ phân giải 600p và sau quá trình xử lý của máy upscale lên 1080p.

Về lý thuyết là như vậy, sau đây ta sẽ đi sâu vào hơn từng nhược điểm của 1 footage quay ra từ Canon DSLR.

Codec H.264 – Cái tội lớn nhất của DSLR:

Trước tiên chúng ta phải biết, H.264 là gì? Hiểu nôm na thì đây là 1 chuẩn nén có rất nhiều cái hay cho việc preview HD, hay là ở chỗ nó RẺ, nó rất NHẸ và cho ra 1 sản phẩm có chất lượng có thể GỌI LÀ XEM ĐƯỢC. Đây là những lý do khiến cho H.264 được sử dụng rất nhiều trong các công việc liên quan đến HD (hầu hết các bộ phim mà bạn down chùa trên mạng đều sử dụng chuẩn nén này). Vì sao vậy, vì nó rất tiết kiệm băng thông (bitrate) trong trường hợp muốn giảm độ lớn của file mà vẫn có chất lượng nhìn được, nhưng bên cạnh đó lại có thể tăng bitrate cao lên nhằm đáp ứng nhu cầu về chất lượng file đầu ra.

Chính vì những lý do ấy, mà Canon đã chọn H.264 để giao phó 1 trọng trách nặng nề là gánh vác mảng Video của những máy DSLR của hãng.

Tất cả những lý thuyết trên đều cho thấy đây là 1 chuẩn nén tuyệt vời cho HD, nhưng tại sao lại nói, nó là cái tội lớn nhất của DSLR?

Điều làm nên các giá trị của H.264 chính là dung lượng file khá nhẹ, nhưng vì sao nó nhẹ, đơn giản vì codec này nén file theo cái cách gọi nôm na là “ăn bớt”. Ăn bớt như nào, đơn giản là nó lấy thông số của Frame hình đầu tiên, sau đó với các frame hình tiếp theo nó sẽ ghi lại sự thay đổi về các giá trị màu sắc so với frame hình đầu tiên. Tức là sau khi muốn đọc thông số ở frame hình số 2, máy sẽ phải quay lại frame hình thứ nhất để đọc, cộng với cái thông số đã được thay đổi ở frame thứ 2.

Nghe qua thì khá là đơn giản, và nó đúng là đơn giản cho công việc đọc file vì 1 CPU bây giờ có tốc độ xử lý là rất tốt. Tuy nhiên, là những người sử dụng DSLR để làm phim, thì chúng ta lại không chỉ đọc mà còn là đọc và chỉnh sửa, đến lúc này, cái nhược điểm của chuẩn nén H.264 mới dần bộc lộ ra.

Với hệ thống dựng phim NLE hiện nay, rất ít hệ thống hỗ trợ việc preview H.264 (trừ Adobe từ CS5 trở về sau), việc preview 1 video với chuẩn H.264 thật sự là 1 gánh nặng cho hệ thống của bạn, hãy thử kéo timeline lên xuống và bạn sẽ thấy tại sao nó lại là gánh nặng xD. Dù cho AP CS5 trở đi đã được hỗ trợ preview và chỉnh sửa file H.264, nhưng khi làm việc với rất nhiều file H.264 chồng chất nhau trên timeline, đó cũng là 1 ác mộng với trình dựng của bạn! Vì vậy, việc “ăn bớt” của chuẩn nén H.264 giờ đây đã không còn tuyệt vời như trước nữa, và trở thành 1 điều không thể chấp nhận được cho công việc dựng phim!

---------------------------------------------------------------------------------------------

Phần 3: Nhược điểm của video quay ra từ DSLR là gì? (2)​

Bitdepth và Chroma Subsampling?!?! Chúng ảnh hưởng gì đến chất lượng của những Footage từ DSLR?​

Canon cho đứa con cưng Video của họ những footage với chất lượng đầu ra không đến nỗi tệ với chuẩn nén H.264, tuy nhiên, cho đến những cỗ máy như 5D MarkII cũng chỉ cho ra được những thước phim chỉ với 8bit màu và độ phân giải màu chỉ là 4:2:0. Vậy, mấy thông số đó là cái gì?​

A. Bitdepth:​

Nói 1 cách đơn giản, bitdepth là 1 giá trị rõ ràng nhất ghi lại thông tin của hình ảnh. Càng nhiều thì càng ít, mỗi screen của phim nhựa có thể ghi lại tới 16 bit màu. Còn DSLR, tất nhiên chỉ được 1 nửa số đó – 8bit. Với công việc của 1 nhà làm phim, thì bạn cần 10 bit màu trở lên cho công việc làm màu, rồi kỹ xảo, đến lúc này, 8bit được cho của DSLR bắt đầu tỏ ra yếu thế của nó, việc sử dụng 8bit màu, khiến cho nhiều chi tiết màu không được chính xác, vì dù có nói như thế nào, chiếc máy của bạn cũng chỉ xuất ra được tối đa là 8bit màu mà thôi.​

Vậy tại sao Canon lại chỉ cho cỗ máy của bạn được có chừng ấy? Vì đơn giản với mục đích sử dụng nghiệp dư, 8bit là đủ, đủ cho mắt người, đủ cho các màn hình hiển thị của bạn (32bit thực chất là 8bit ở mỗi kênh R,G,B và kênh Alpha), việc nâng cao nó lên dường như là quá đắt đỏ cho một cỗ máy nghiệp dư cho việc quay phim. Chính vì lẽ đó, 8bit đã được chọn như 1 giải pháp hoàn hảo!​
10bit trở lên cho công việc làm phim, vì sao? Đơn giản là đến lúc vào hậu kỳ, làm màu, kỹ xảo, cái footage của bạn càng chính xác bao nhiêu về màu sắc, thì sẽ càng ít sai sót về màu sắc, đến lúc đó, sau quá trình chỉnh sửa, sự sai lệch về màu sắc cũng đã được giảm đi rất nhiều. Đơn giản hơn, bạn đang giảm lỗ từ ngay quá trình quay, tức là quá trình thu thập màu sắc, hình ảnh của DSLR, để sau quá trình Render của các trình dựng, chất lượng bạn đánh mất đi không quá nhiều. Vậy, trên 10bit là cần thiết!​

B. Chroma Subsampling:​

1 bức ảnh số thì mang theo những pixel, và những pixel ấy thì mang theo các giá trị: Luminance và Chrominance. (Luma = Giá trị độ sáng, Chroma = Giá trị màu sắc) Khi bạn loại bỏ hết Chroma ra khỏi bức ảnh, cái bạn nhận được là 1 bức ảnh BnW, còn khi bạn loại bỏ hết Luma ra khỏi bức ảnh của mình thì cái bạn nhận được là 1 màu đen hoàn hảo.​

1 bức ảnh hoàn hảo là 1 bức ảnh có những pixel có những giá trị Luma và Chrome “riêng của nó”. Nhưng vài năm trước 1 vài kỹ xư “thông minh” đã phát hiện ra rằng, mỗi pixel không cần mang giá trị riêng của nó, mà có thể chia sẻ cùng với các pixel cạnh bên với cùng 1 màu sắc và ta vẫn có được 1 bức ảnh đẹp.​

Lúc này cụm từ Chroma Subsampling xuất hiện với 1 nghĩa hiểu đơn giản là “ăn bớt về màu sắc”. Vậy bạn cần bao nhiêu Pixel để có thể ăn bớt mà vẫn giữ được chất lượng của bức ảnh?​

Một giá trị “độ phân giải màu” thường được viết dưới dạng sau: ​

J:a:b​
pix-pix-pix-pix​
pix-pix-pix-pix​

ð J: cho ta biết bao nhiêu pixel mà ta làm việc với (trong quá trình ăn bớt), giá trị này thường là 4.​
ð a: cho ta biết có bao nhiêu pixel ở Hàng Trên mà có giá trị Chroma khác nhau.​
ð b: cho ta biết có bao nhiêu pixel ở Hàng Dưới mà có giá trị Chroma khác nhau.​

Vậy 4:4:4 là gì? Người ta sẽ lấy mẫu 4 pixel chiều ngang để chúng ta làm việc với, hàng trên sẽ có 4 giá trị màu sắc khác nhau, hàng dưới sẽ có 4 giá trị màu sắc khác nhau:​

1-2-1-2​
2-1-2-1​

Có thể thấy trong trường hợp này, không pixel nào giống màu pixel nào, đây là 1 sự khởi đầu hoàn hảo cho 1 bức ảnh có màu sắc trung thực nhất, vì đơn giản, màu của các pixel không bị lẫn vào nhau. Trong trường hợp này, mỗi pixel đang giữ trong mình 1 giá trị riêng về màu sắc và độ sáng, khi làm màu cũng như kỹ xảo, đây luôn là giá trị mà người ta muốn hướng tới!​

Nhưng đáng tiếc thay, Canon lại không cho chúng ta sự tuyệt vời như thế! Khi video quay ra từ DSLR chỉ đạt giá trị độ phân giải màu là 4:2:0. Theo cách hiểu như trên chúng ta có thể phân tích màu sắc của các pixel như sau:​

1-1-2-2​
1-1-2-2​

Có thể thấy, màu của các pixel đã bị ăn bớt đi rất nhiều, khi hàng thứ nhất là bản sao chính xác của hàng thứ 2, hàng dưới đã chính thức bị ăn bớt không còn 1 màu sắc riêng nào của mình.​

Với độ phân giải 1920*1080, việc ăn bớt này đã làm mất của bạn đi 3/4 số pixel có màu sắc riêng biệt, khiến cho công cuộc chỉnh màu của bạn đã khó, nay càng khó hơn.​

Nhưng vẫn còn may mắn là quá trình nén này chỉ làm thay đổi thông số Chroma và giữ nguyên thông số Luma, nên chất lượng mà mắt người cảm nhận được, dù có bị bớt đi, cũng không đến nỗi quá nhiều, thay vào đó bạn có được 1 video có dung lượng nhẹ hơn, và có khả năng làm việc tốt hơn.​

Trong phần sau em sẽ huớng dẫn mõi người làm sao để xử lý các lỗi cơ bản của DSLR mà em đã chỉ ra trên đây:) ​

Có 1 cái ảnh Demo 1 Footage từ DSLR H264 8bit 4:2:0 (Ảnh trái) và cũng Footage đó sau khi qua quá trình xử lý ra Uncompress AVI 10 bit 4:4:4 (Ảnh phải)​


Theo tinhte.vn

Điều quan trọng trong cuộc sống


Chúng ta dành quá nhiều thời gian cho công việc, mà quên rằng còn có nhiều thứ quan trọng hơn nhiều.


from PhunuGiadinh.vn

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016

DOS

Dù đã rất lâu không mấy khi đụng đến các câu lệnh của DOS nhưng đọc tựa đề bài báo “Hệ điều hành MS-DOS chính thức nghỉ hưu” mới sực nhớ ra ba điều :

- Đã từng có DOS
- Đã từng sử dụng
- Vẫn tồn tại dù không còn mấy ai sử dụng

Thời sinh viên được thực hành ngôn ngữ Fortran 4 trên giàn máy IBM 360/50 tôi chẳng biết hệ điều hành (Operating System) là gì. Đầu tiên chương trình viết trên giấy được đưa đến bộ phận đục lỗ trên phiếu và nhận lại một cọc phiếu đã đục lỗ (punctuation card). Sau đó theo lịch hẹn, lại đưa cọc phiếu đó cho những người vận hành máy tính để nạp vào, biên dịch (compiler) và chạy.

Có lần tôi làm rơi đống card đó, lại phải ngồi sắp lại theo dòng lệnh với tâm trạng rất băn khoăn rằng “Như thế đã đúng thứ tự chưa ?”.

Một lần nữa theo lịch hẹn đến nhận kết quả và ít khi được toại nguyện vì sẽ thấy trên tờ giấy một câu thông báo ngắn ngủn đại loại như là “syntax error”. Lại ngồi xuống xem lại cú pháp, dò lại chương trình, lại đưa đi đục lỗ,…



Đến khi có hệ điều hành MS-DOS hoặc PC-DOS thì công việc trở nên nhanh hơn nhiều. Chỉ cần Enter thì Syntax Error đã hiện ra. Câu lệnh nào không nhớ thì đã có /HELP.

Dù DOS là hệ điều hành đơn nhiệm, mỗi một thời điểm chỉ có một chương trình được chạy, nhưng thời đó có hai ứng dụng chạy theo chế độ thường trú trong bộ nhớ (TSR, Terminate and Stay Resident). Đó là bộ gõ tiếng Việt Vietres và bộ soạn thảo văn bản Sidekick.

Thời gian viết một ứng dụng đã nhanh hơn. Những dòng lệnh được gõ bằng Sidekick rồi chuyển ngay sang chế độ thông dịch (interpreter) để chạy, nếu còn lỗi lại bật trở lại Sidekick sửa chương trình. Tiện lợi hơn nhiều so với thời kỳ chưa có DOS.

Cũng có lời khen người đặt tựa đề bài báo này. DOS đã nghỉ hưu từ lâu rồi, bây giờ mới chính thức.

PQT

http://www.thongtincongnghe.com/article/72378

Hệ điều hành MS-DOS chính thức nghỉ hưu

Trước khi xuất hiện Office hay Windows, Microsoft đã từng có một hệ điều hành huyền thoại mang tên MS-DOS. Nó đã giúp biến Microsoft thành một đế chế trong lĩnh vực phần mềm.

Theo Business Insider, MS-DOS là một hệ điều hành dòng lệnh, đồng nghĩa người dùng phải học thuộc rất nhiều cú pháp và lệnh để gõ chúng vào máy tính giúp thực hiện những tác vụ.
Trong 36 năm qua, mỗi phiên bản Windows đều cho phép người dùng truy cập vào dấu nhắc lệnh MS-DOS theo những cách khác nhauđể tìm kiếm, thao tác với các tập tin.
Hiện tại, Microsoft lặng lẽ xóa sổ MS-DOS trong phiên bản Windows 10 mới nhất phát hành dành cho cộng đồng các nhà phát triển (Windows Insiders). Thay vào đó, Microsoft thay thế MS-DOS bằng PowerShell. Đây là một công nghệ của Microsoft vừa chính thức kỉ niệm 10 năm ra đời chuyên dùng để viết các đoạn script, được người dùng và các lập trình viên ưa chuộng hơn hẳn so với MS-DOS.

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Vua Việt chết thảm dưới tay Chế Bồng Nga

Không những không nghe lời can ngăn, Trần Duệ Tông còn ép đại tướng của mình mặc áo đàn bà để xỉ nhục, để rồi phải nhận cái kết bi thảm.

Vua bỏ mạng vì khinh địch, xỉ nhục đại tướng

Trần Duệ Tông tên thật là Trần Kính, còn có tên khác là Trần Canh, sinh ngày 2 tháng 6 năm Đinh Sửu (1337), là con trai thứ 11 của Trần Minh Tông, mẹ là Đôn Từ hoàng phi Lê Thị Khắc Viện.

Ngày 9 tháng 11 năm Nhâm Tí (1372), ông được anh trai là vua Trần Nghệ Tông nhường ngôi cho trở thành hoàng đế thứ 10 của triều Trần.

Bấy giờ bên trong thì triều chính suy yếu, xã hội bất ổn; bên ngoài thì ở phía Bắc triều Minh lăm le xâm lấn, phía Nam thì Chiêm Thành liên tục quấy nhiễu.

Trong bối cảnh đó, Trần Duệ Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót, vực dậy sức mạnh của vương triều.

Một trong những sách lược mà vua chủ trương đó là tăng cường sức mạnh của quân đội bằng việc tuyển quân, luyện tập võ nghệ, sửa đóng chiến thuyền, tích trữ lương thảo... muốn dùng binh lực áp chế Chiêm Thành mãi mãi để rảnh lo đối phó với phương Bắc. Nhưng không ngờ đó lại là tai họa không chỉ với bản thân ông, mà còn khiến triều đại nhà Trần tiến gần đến bờ diệt vong.

Trước khi vua xuất quân, Hoàng phi Nguyễn Bích Châu đã dâng biểu cho rằng không nên dùng vũ lực mà "xin nghỉ binh cho dân chúng được yên hàn, trị cái rắn nên dùng cái mềm, lấy đức để thu phục người phương xa như vua Hạ (Vũ) chỉ gảy đàn mà chẵn 1 tháng rợ Hồ quy phục, đó là thượng sách" (Theo Truyền kỳ Tân phả).

Nhiều đại thần văn võ, tiêu biểu nhất là quan Ngự sử trung tán Lê Tích và Ngự sử đại phu Trương Đỗ 3 lần lên tiếng can ngăn nhưng Trần Duệ Tông không nghe, nhất quyết thân chinh đi đánh, lại nghe theo lời sàm tấu của Hành khiển Đỗ Tử Bình nói rằng Chiêm Thành vô lễ, cần phải diệt trừ.

Tháng 12 năm Bính Thìn (1376), Trần Duệ Tông dẫn 12 vạn quân ra trận, đến tháng giêng năm Đinh Tị (1377) khi đến cửa biển Thị Nại (nay thuộc Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) thì đóng quân ở động Ỷ Mang.

Vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho người đến vờ xin hàng, Trần Duệ Tông liền thúc quân tiến vào kinh đô Chà Bàn.

Thấy vua quá chủ quan khinh địch, "đại tướng Đỗ Lễ can rằng: "Nó đã chịu hàng là muốn bảo toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc bất đắc dĩ. 

Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói: "Lòng giặc khó lường". Thần xin bệ hạ hãy xét kỹ lại".

Vua nói: "Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu với ta. Ấy là trời giúp cho ta đó. 

Huống chi nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ đánh nhau. Cổ nhân nói: "Dùng binh quý thần tốc". Nay nếu dừng lại không tiến thì thực là trời cho mà không lấy, để nó lại cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà".

Rồi sai lấy áo đàn bà mặc cho Lễ. Quân lính bèn nối gót nhau như xâu cá mà đi. Cánh quân đi trước và cánh quân ở sau hoàn toàn cách biệt. Giặc thừa thế xông ra đánh chặn" (Đại Việt sử ký toàn thư).


Bị phục binh quân Chiêm vây hãm, Trần Duệ Tông và nhiều quan tướng bị chết trong đám loạn quân, hôm đó là ngày 24 tháng 1 năm Đinh Tị (1377).

Sách Đại Nam quốc sử diễn ca có câu rằng:

Duệ Tông hăm hở phục thù,
Đánh Chiêm nào quản tri khu dặm trường.
Khinh mình vào động Ky Mang,
Tinh kỳ tan tác gió sương mịt mù.

Đánh giá về Trần Duệ Tông, sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: "Vua là người ương bướng, tự theo ý mình, không nghe lời can, khinh thường quân giặc nên tai vạ đến mình chứ không phải là bất hạnh".

Còn sách Đại Việt sử ký tiền biên thì bình rằng:

"Việc thích dùng binh, coi thường địch, chống lại lời can, làm theo điều sai trái, nhận sự đầu hàng nhưng không xét tình hình; vào nơi hiểm yếu mà không phòng bị thăm dò nghiêm ngặt, thúc ngựa nơi hiểm trở gập ghềnh...

...quân đi liên tiếp như xâu cá, cuối cùng sa vào mưu lừa dối của địch, không ai cứu khi bị đánh cắt ngang, ba quân sụp đổ, xe vua phải chở xác về, để lại sự chê cười ở rợ man, không nói được gì với Trung Quốc, sự thất bại ở Ỷ Mang há chẳng phải là tự mình chuốc lấy đó sao?".

Tướng Đỗ Lễ là ai?

Lại nói về Đỗ Lễ, vị đại tướng bị vua Trần bắt phải mặc váy áo đàn bà để làm nhục, sử sách không cho biết về thân thế của ông, tuy nhiên theo nguồn sử liệu dân gian, chúng ta biết thêm một số thông tin về ông.

Trong bản Tông phả họ Đỗ do Hoàng giáp Đỗ Thiện Chính biên soạn vào đời vua Lê Thần Tông triều Lê Trung hưng cho biết: Đỗ Lễ thuộc dòng họ Đỗ quê gốc ở thôn Bồng Trung, xã Đông Biện (nay là xã Vĩnh Tân thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), đây là dòng họ có nhiều người làm quan văn tướng võ dưới triều Lý, triều Trần…

Đỗ Lễ từ nhỏ đã là người có sức khỏe, khi trưởng thành có tiếng là giỏi võ nghệ, ham thích binh thư, rất dũng lược. Theo lệ tuyển binh của triều Trần, Đỗ Lễ tham gia quân đội, nhờ tài năng mà dần dần được thăng lên làm tướng quân.

Ít ai biết rằng Đỗ Lễ là một trong những người có công lớn trong việc dẹp loạn Dương Nhật Lễ vào tháng 11 năm Canh Tuất (1370), giành lại ngai vàng cho họ Trần.

Trong sách Đại Việt sử ký tiền biên có đoạn cho biết như sau: "Xét thấy ngoại kỷ chép: Trước đây Duệ Tông khởi nghĩa giết Nhật Lễ, có quan văn là Trần Thâm tính kế hoạch, có quan võ là Đỗ Lễ điều quân. 

Khi đã vào thành, Nhật Lễ vẫn cầm quân đánh lại, trách Duệ Tông là làm trái chiếu chỉ của Thái hậu, Duệ Tông tức giận chỉ huy các quân. Hỏa pháo đều bắn ra. Kinh thành lửa sáng rực trời, Nhật Lễ từ cửa Thanh Dương trốn ra, Duệ Tông bắt được…".

Nhờ có nhiều công trong việc dẹp loạn này mà Đỗ Lễ được triều đình thăng lên đến chức Đại tướng quân.

Trong cuộc Nam chinh cuối năm Bính Thìn (1376) đầu năm Đinh Tị (1377) do Trần Duệ Tông chủ trương, thấy vua coi thường đối phương, Đỗ Lễ đã cẩn trọng khuyên vua đề phòng, nhưng vua không nghe còn chê ông là nhút nhát, bắt phải mặc áo đàn bà để sỉ nhục.

Sử chép rằng vì mắc mưu trá hàng của quân Chiêm, quân Trần bị thua to, "giờ Tỵ (khoáng từ 9 đến 11 giờ trưa) quan quân tan vỡ. Vua bị hãm trong trận mà chết, bọn Đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết cả" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Vua Việt chết thảm dưới tay Chế Bồng Nga vì ngông cuồng, bắt đại tướng mặc áo đàn bà - Ảnh 1.

Cuộc hỗn chiến bên thành Chà Bàn. (Hình minh họa)

Theo dã sử, vua Trần Duệ Tông bị trúng tên tử trận, bấy giờ Đại tướng Đỗ Lễ cầm cây thương thúc ngựa xông lên đánh với vua Chiêm là Chế Bồng Nga để cho đội ngự binh cướp xác vua rút lui.

Quân Trần bấy giờ hoàn toàn tan vỡ, không còn ra một đội hình nào cả nên Đỗ Lễ sức cùng lực kiệt bị quân Chiêm xúm lại dùng giáo đâm xối xả khiến vị đại tướng cả người, cả ngựa gục xuống trên chiến trường.

Khi viết về sự kiện bi thương này của vua quan nhà Trần, tác giả sách Việt sử giai thoại có lời bàn rằng: "Đánh giặc cũng như đánh cờ, có khi trước phải tạm nhường mấy nước miễn sau cùng giành phần thắng thì thôi. 

Đại tướng Đỗ Lễ cẩn trọng, ấy cũng là phép xử thường của kẻ quen xông pha trận mạc. Duệ Tông bất chấp lời can ngăn, lại còn coi khinh mà hạ nhục, bắt Đại tướng phải mặc áo đàn bà trước mặt ba quân, chủ quan háo thắng mà vô mưu đến thế, bảo không thảm bại làm sao được. 

Cổ nhân dạy rằng, dụng binh mà khinh tướng, ấy là nguy. Duệ Tông hạ nhục Đại tướng Đỗ Lễ, có biết đâu là đã tự hạ nhục mình, mà xem ra, cái nhục của Duệ Tông mới thực là nỗi nhục lớn hơn cả".

Câu chuyện về Trần Duệ Tông là một bài học sâu sắc của các bậc quân chủ giữ vai trò lãnh đạo quốc gia; với những việc quân sự quan trọng phải có sự tính toán, cân nhắc lợi hại, thiệt hơn; phải biết sức mình và lực người chứ không dựa trên sự nóng nảy, kiêu ngạo nhất thời sẽ dẫn đến thất bại, thậm chí có kết cục bi thảm.

Tài liệu tham khảo:

1.Đại Nam quốc sử diễn ca (Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái) – NXB Giáo dục, 2007
2.Đại Việt sử ký tiền biên (Các sử thần triều Lê)- NXB Văn hóa thông tin, 2011
3.Đại Việt sử ký tục biên (Các sử thần triều Lê)- NXB Văn hóa thông tin, 2011
4.Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn)- NXB Giáo dục, 1998
5.Việt sử giai thoại (Nguyễn Khắc Thuần)- NXB Giáo dục, 1999
6.Việt sử tiêu án (Ngô Thì Sĩ) – NXB Thanh niên, 2001

theo Trí Thức Trẻ
from soha

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

Hư hỏng

- Này, sao Bà trông buồn vậy ?


- Tôi buồn cho mấy đứa con gái của cái làng này. Chúng nó ngày càng hư hỏng.

- Tôi thấy tụi nó tuy không lộng lẫy như thiếu nữ thành thị nhưng cũng đẹp người, đẹp nết lắm. Không hiểu tụi con gái hư hỏng chỗ nào làm Bà buồn.

- Bà không thấy sao ? Từ ngày phim ảnh tràn về cái buôn làng này, nhất là mấy cái phim tình cảm ướt át, đứa nào cũng bắt chước các nghệ sĩ nổi tiếng, từ đầu tóc đến quần áo.

-  Thì cũng phải cho tụi nó phóng khoáng một tí, chứ sao bắt tụi nó giống tôi với Bà được.

- Ăn mặc như thế mà Bà không thấy xốn mắt sao ?

- Tôi thấy tụi nó ăn mặc đẹp đấy chứ, xốn mắt ở chỗ nào ?

- Đẹp thì có đẹp nhưng bây giờ chẳng có đứa nào giữ gìn truyền thống như tôi với Bà.

- Nghĩa là sao ?

- Tụi nó mặc đồ kín mít từ đầu tới chân.

PQT
04.12.2016

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Cimon và Pero

Có một câu chuyện rất hay phía sau nhiều bức tranh, bức điêu khắc trên thế giới về một ông già đang ngậm bầu sữa cô gái trẻ.

Ở bảo tàng nghệ thuật Lourve có một bức điêu khắc của Jean Goujon khiến những người lần đầu đi qua đều phải đỏ mặt xấu hổ khi nhìn vào. Đó là bức tượng một cô gái trẻ đang vạch bầu ngực cho gã đàn ông già nua bú. Không chỉ ở Lourve mà còn nhiều bảo tàng khác trên thế giới có những tấm điêu khắc, tranh vẽ về hai nhân vật này.

Tấm điêu khắc trong bảo tàng Lourve, Pháp.
Bức điêu khắc và nhiều tác phẩm tranh ấy mang một cái tên chung: Cimon and Pero, và nó mang một câu chuyện đậm tính nhân văn khiến người ta phải khóc, chứ không phải che mắt ngoảnh đi. Pero là con gái của Cimon. Hành động tưởng như ghê tởm ấy chính là tình cảm của cô con gái dành cho người cha đang chết dần chết mòn của mình.

Nếu không hiểu câu chuyện phía sau, hẳn nhiều người sẽ lên tiếng chế nhạo, cuời chê phía bảo tàng. Thật, làm sao có thể đặt một bức tượng, bức tranh vẽ cảnh tượng nhục dục ghê tởm ấy ngay trong khuôn viên bảo tàng nghệ thuật, vốn được biết dành cho sự tinh tế cao sang.

Tới ngày hôm nay, bức "Cimon and Pero" lại một lần nữa khuấy động mạng xã hội, từ Facebook đến Tumblr khắp nơi chia sẻ lại bức tranh của danh hoạ Rubens cùng câu chuyện cảm động về tình cha con ấy.

Bức "Cimon and Pero" của danh hoạ Rubens vẽ năm 1640.
Câu chuyện mà tác giả kể đúng ở phần chi tiết cốt lõi: Pero đang sử dụng bầu ngực của mình để cứu sống người cha đang phải chịu án tử trong tù của mình. Tuy nhiên, thực tế, nguyên tác lại khác hơn một chút.

Nguyên gốc câu chuyện có tên Roman Charity, được ghi lại trong cuốn IV bộ Nine Books of Memorable Acts and Sayings of the Ancient Romans ( 9 cuốn sách về hành động và câu nói đáng nhớ của người La Mã cổ đại) của nhà lịch sử học Valerius Maximus viết vào những năm 30 Kỷ Công Nguyên. Hầu hết những câu chuyện trong sách đều dựa trên các khía cạnh cuộc sống đời thường của người Hi Lạp cổ. Roman Charity là chuyện về lòng hiếu thảo.

Bởi vậy, chi tiết nói Cimon là chiến binh anh hùng của Puerto Rico là không chính xác.

Ở truyện gốc, không có Cimon và Pero, chỉ có một người đàn bà bị Pháp quan kết án tử phải ngồi tù. Nhưng vì quản giáo thương tình đã không bóp cổ chết ngay, chỉ để mụ phải dần dần chết đói sau chấn song, đồng thời cho phép con gái vào thăm mụ, chỉ cấm không được tiếp tế đồ ăn.

Nhiều ngày trôi qua, quản giáo ngạc nhiên vì mụ vẫn còn sống, chỉ hơi mệt mỏi tiều tuỵ mà thôi. Thế là vị quản giáo bí mật theo dõi những lần thăm mẹ của cô con gái kia có gì khuất tất hay không. Rồi ông phát hiện ra trong cuộc thăm viếng, cô con gái vạch bầu ngực của mình ra để mẹ bú sữa để bà không chết đói trong tù.

Chuyện đến tai Pháp quan không lâu sau đó, nhưng vì cảm động với sự hiếu thảo của cô con gái dành cho mẹ, vị Pháp quan đã trình báo lên Bồi thẩm đoàn và quyết định thả tự do cho người đàn bà về với con gái.

Vốn đã là truyện thì thường có dị bản, mà "Cimon and Pero" chính là dị bản của câu chuyện người mẹ bú sữa con gái trong tù bên trên. Cimon có vai trò thay thế bà lão, còn Pero, vẫn mang nhiệm vụ cô con gái hiếu thuận tìm mọi cách nuôi bố mẹ trong tù.

Tác phẩm cùng đề tài khác của hoạ sĩ Peter Paul Reubens.
Cimon bị kết tội tử hình phải ngồi tù và đang bị bỏ đói trước khi hành hình. Pero không muốn cha phải chịu khổ đau đã lén lút để cha bú sữa trong những lần thăm cha. Cuối cùng vụ việc bị phát hiện, nhưng vì sự đẹp đẽ phía sau hành động ấy, Cimon đã được trả tự do cùng con gái hiếu thảo của mình.

Câu chuyện về lòng hiếu thuận La Mã đã trở thành cảm hứng sáng tác cho rất nhiều nghệ sỹ ở thế kỷ 17, 18. Bức điêu khắc của Jean Goujon là một trong số đó. Ngoài ra, còn có bức tranh sơn dầu của danh hoạ Peter Paul Rubens.

from kenh14

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Thần Hộ Mệnh

Anh nọ đang đi trên vỉa hè, vừa định bước chân xuống để băng qua đường, anh ta nghe thấy một giọng nói vang lên trong đầu :

- Cẩn thận đừng bước xuống.

Anh ta rút chân về, một chiếc xe vụt chạy qua. Hú hồn, định nói cám ơn nhưng anh ta nhìn quanh, không thấy ai.

Bẳng đi ít ngày, hôm đó cũng đang đi trên vỉa hè, anh ta lại nghe thấy giọng nói hôm trước :

- Cẩn thận, đứng lại.

Anh ta đứng lại và thấy cái chậu Hoa rơi ngay trước mặt.

Anh ta quay qua lại, vẫn không thấy ai, liền cất giọng :

- Ai đó, ai cứu tôi đó.

Có tiếng trả lời:

- Tôi đây. Tôi là Thần Hộ Mệnh của anh đây.

Anh chàng nghe thế bèn to tiếng:

- Có thiệt ông là Thần Hộ Mệnh tôi ?

- Đúng !

- Vậy chứ khi tôi đi ký giấy hôn thú, ông ở đâu ?!


- Những tai nạn trên đây ta cứu ngươi vì ngươi không biết nó sẽ xảy ra cho ngươi. Chứ lúc ngươi lấy vợ, ngươi đã biết mà ngươi cứ lấy. Ngu thì cho chết, còn kêu ca gì nữa?"

PQT
(sưu tầm)

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

Cô gái chèo đò

Nếu ở thành phố, khách du lịch được xích lô đưa đi tham quan thì ở vùng sông nước Đồng bằng Sông Cửu Long, khách sẽ được len lỏi vào sông, rạch bởi các loại đò du lịch. 

Ở sông, đò được gắn máy đuôi tôm.
Ở rạch, sẽ có những cô gái chèo đò.


Khách không quen sông nước nên thể nào cũng phải lần mò khi bước lên đò hoặc ngồi trên đò. Tâm trạng sợ đò lật nên hai tay lúc nào cũng phải bám chặt hai bên. Khách thì ngồi im, còn cô gái chèo đò thì phải nai lưng ra điều khiển mái chèo để đẩy ghe đi tới. Ngồi dưới ghe có cảm giác cô ấy đang nhấp nhô vì lúc rạp người xuống lúc thẳng lưng lên.

Những ai đã từng đi xích lô chắc sẽ có cảm giác ái ngại khi người đạp xích lô là một ông già.

Còn ngồi trên ghe có gần mười người thì dù đoạn rạch đi có vài trăm mét cũng có những ngại ngùng vì cô ấy phải thở dốc để chèo và để trả lời những câu hỏi ngây ngô của người thành thị.

Cho nên có thơ rằng

Hai chèo nắm chặt, cô lái đò
Tay vịn hai bên, khách lần mò
Khách ngồi hưởng thụ, phần phật gió
Cô gái nhấp nhô, thở phì phò.

PQT
29.11.2016

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

Điều gì xảy ra nếu bạn uống nước chanh mật ong vào buổi sáng

Ngoài tác dụng giảm cân, tiêu thụ nước chanh mật ong vào sáng sớm còn giúp cơ thể thải độc, cải thiện hệ tiêu hóa, tăng cường năng lượng cho cả ngày dài.

Sự kết hợp giữa nước chanh ấm với mật ong đã được sử dụng từ thời xa xưa như phương thuốc tự nhiên cho việc giảm cân và rất có hiệu quả.

Theo Live Strong, một quả chanh được khoảng 3 thìa nước cốt, chứa 11 calo, rất giàu vitamin C, cung cấp tới 21% nhu cầu vitamin C hàng ngày cho nam giới và 25% cho nữ giới.

Không chỉ ngăn ngừa bệnh ung thư, tim mạch và lão hóa, vitamin C còn hỗ trợ mục tiêu giảm cân bằng cách đốt cháy nhiều chất béo. Trong khi đó, mật ong giàu chất chống oxy hóa, tăng tỷ lệ trao đổi chất trong cơ thể đáng kể khi bạn tiêu thụ thường xuyên. Khi đó, khả năng cơ thể đốt cháy chất béo cũng tăng lên, nhờ vậy mà giúp giảm cân.

Nước chanh mật ong có lợi ích lớn nếu bạn uống thường xuyên vào sáng sớm. Ảnh: Pinterest.
Ngoài ra, nước chanh có tính axit, có khả năng hòa tan các tế bào mỡ trong cơ thể, cung cấp hiệu ứng giải độc, loại thải chất độc hại ra ngoài.

Ngoài tác dụng giảm cân, việc uống nước chanh mật ong vào buổi sáng còn có nhiều công dụng kỳ diệu cho sức khỏe.

Hỗ trợ điều trị viêm họng: Theo Natural Living Ideas, nước chanh mật ong thường được dùng để điều trị đau họng. Chất khử trùng peroxit trong mật ong giúp giảm lượng vi khuẩn ở khu vực nhiễm bệnh, đồng thời giảm viêm và đau họng.

Cải thiện tiêu hóa: Chanh giúp gan sản xuất ra nhiều mật giúp hệ thống tiêu hóa phá vỡ được các loại thức ăn phức tạp. Mặt khác, mật ong có tính chất kháng khuẩn, ngăn ngừa nhiễm trùng.

Điều trị táo bón: Theo The Health Site, chuyên gia dinh dưỡng Naini Setalvad (Ấn Độ) cho biết hỗn hợp này hỗ trợ tiêu hóa, làm chuyển động nhu ruột nhẹ nhàng hơn và ngăn ngừa táo bón.

Tăng cường hoạt động của đại tràng: Nước chanh mật ong giúp làm sạch đại tràng, loại bỏ những thức ăn không tiêu, các tế bào đường ruột và chất độc hại. Việc này có tác dụng cải thiện sự hấp thu các chất dinh dưỡng trong dạ dày, giúp cơ thể ngậm nước, ngăn ngừa đầy hơi.

Điều trị mụn: Uống nước chanh mật ong vào sáng sớm là một trong những điều tốt nhất bạn nên làm để kiểm soát mụn trứng cá. Bạn sẽ cảm nhận được rõ rệt hiệu quả của nó sau 2-3 tuần uống đều đặn. Chất chống oxy hóa và đặc tính kháng khuẩn trong chanh và mật ong cũng rất có tác dụng làm sạch da.

Tăng cường năng lượng: Nước chanh mật ong chứa rất ít calo, giàu các chất chống oxy hóa giúp đánh bại mệt mỏi, tăng cường năng lượng. Ngoài ra, hương thơm của chanh là chất thư giãn tự nhiên, cải thiện tâm trạng của bạn.

Lợi tiểu: Mật ong là chất kháng khuẩn rất mạnh, có khả năng đánh bại một số nhiễm khuẩn thông thường. Bên cạnh đó, khi kết hợp mật ong với chanh và nước, 2 tác nhân lợi tiểu hiệu quả, chúng sẽ làm sạch đường tiết niệu.

Cách làm nước chanh mật ong

- 3 thìa cà phê nước cốt chanh và 1 thìa mật ong
- Cho nguyên liệu vào một ly nước ấm và khuấy đều
- Sử dụng nước uống này vào buổi sáng khi đói.

theo soha

A Simple Guide to Autofocus Microadjustment

by ADAM WELCH on JANUARY 27, 2015

The importance of dead-on focusing is obvious. Securing clean and crisp focus on a subject or scene is one of the most fundamental foundations of achieving a strong photograph.

If you’re a photographer who unfortunately lacks an unlimited budget (like the guy typing this) then you understand how important it is to squeeze every last drop of precious performance out of whatever gear you have on hand. But how do you know when you’ve reached the upper limits of what your camera or lens is capable of achieving?

In most situations, your gear is far more capable than you or I can ever hope to be. So in reality, it is most often the shooter who limits the gear… not the other way around. You’re about to learn of a lesser known technique for ensuring your images are in the best focus possible.

Applying the knowledge found within this article should bring you one step closer to residing in a blissful and regret-free world of photographic euphoria.


The technique is known as Autofocus Microadjustment. It’s a nice and interesting designation for what amounts to fine tuning how your AF lenses communicate with your camera in order to produce the most accurate focus possible.

So how is this done? Good question… I’m glad you’re still with us. Like most things, it’s a lot less involved and certainly a lot less intimidating that it sounds. Admittedly, the method for the adjustments can be made considerably more complicated. Luckily for us both, we will safely reside at the shallow end of the complication pool and keep things simple. In, fact this adjustment only requires a few minutes of your time but can yield surprising results.

I normally shoot Canon. No, I don’t take part in any of those “camera” measuring contests over which manufacturer makes the best whatever. It’s just my choice. That being said, this tutorial is based on Canon equipment. If you shoot with a camera from another manufacturer the overall process and concept should still be the same. As always, your camera’s manual is one of your allies.

Most higher tier models support this feature. Here are the Canon models that have the option for AF microadjustment as of writing this article: 1D series, 5D series, 6D, 7D series, 70D, and 50D.

None of the Rebel series currently have this option at the time this article was written.

I’ll say again, there is not one certain right or wrong way to do this. This walk-through requires nothing but your camera, lens, tripod (or some VERY stable platform), and some type of stationary three dimensional high-contrast object. In other words, photograph something that lets you easily discern and direct where you are focusing. Don’t shoot at flat walls since these will give you no frame of reference.

AF Microadjustment Guide
  1. Secure the camera on a tripod if possible.
  2. If your lens has image stabilization be sure to switch it to “off“.
  3. Engage the LCD screen and switch the camera’s AF selection to Live View. This will give you an accurate view of what the camera is seeing.
  4. Position your camera so that your subject is in the middle of the viewfinder and switch the focus point selector to single point. Be sure the focus point is centered as well. You should be at a distance of no less than 50 times the focal length of the lens. If you’re shooting a 50mm then this is about eight feet or approximately 2.5 meters.
  5. Set your lens wide open (smallest F-stop number) and use your LCD while still in Live View to focus as sharply as you can.
  6. Without moving anything (tripod, focusing ring) switch your camera from Live View to One-Shot AF.
  7. Carefully press the shutter button half-way or use the back button AF while looking at the focus ring of the lens. If your AF is accurate, the focusing ring should not move. If it does move remember which way and by how much… that means you best write it down. If it moves closer then it means you are focusing in front of your intended location. If it moves further away then your a back-focused which means the focus is behind where you intended.

Canon recommends taking three consecutive images at -10, 0, and +10 adjustment steps and then review them at 100% magnification on your computer monitor. Make more or less images but the important thing is to pay close attention to the changes in each. If you find that the lens does need adjusting, follow these steps.
  1. Press the menu button.
  2. Locate in the camera settings the heading “Autofocus/Drive” and then select that option.
  3. If you find that you have focusing problems no matter what lens you use, select “Adjust all by same amount“. If you only seem to have trouble with select lenses choose “Adjust by lens“.
  4. Press the “Info” button to bring up the adjustment screen and make the required changes to bring your test images into focus. Press “OK” when you’re ready to save your changes.
That’s it!

Those few easy steps can help you become a more meticulous shooter and also help you get the most out of your gear. Granted, this is geared towards those folks who are admittedly a little obsessive about controlling all aspects of their craft. This is not a good or bad attitude to have towards any occupation. However, in my experience, the fewer variables you have to worry about the better the outcome.

Some things to consider concerning AF Microadjustment

The lens I used was a 50mm prime lens. Prime means that it is a non-zoom lens. If you use a zoom or telephoto lens then the procedure becomes a little more involved. Seeing how the AF is dependent on the focal length of your lens, a zoom lens introduces a huge number of variables in focusing. It’s recommended by Canon to make adjustments at the shortest and longest focal length of your lens. Or, conversely, make the adjustments and register the changes at your most used focal lengths.

It should also be noted that this AF Microadjustment is not a “cure all” remedy for your focusing problems. It doesn’t not solve optical abnormalities or fix physical defects in your camera or lens. If you run into a problem that you can’t seem to solve or don’t feel comfortable solving it’s always better to leave it to the professionals and send your camera or lens to the manufacture for qualified service.

About the Author: Adam Welch

Adam Welch Adam is a photomaker, author, educator, self-professed bacon addict, and a hardcore nature junkie. You can usually find him on some distant trail making photographs or at his computer writing about all the elegant madness that is photography.

from https://contrastly.com/autofocus-microadjustment/



All the cameras below have the facility to set an AF Adjustment independently for each lens that you use. The newer Canon camera and all of the Olympus camera listed below also provide for independant setting of the short and long end of zoom lenses.

Canon: AF MicroAdjustment

Newer Canon cameras facilitate independant adjustment of the short and long end of zoom lenses.

1Dx
1Dx Mk2
5D Mk3
5D Mk4
5Ds
5Ds R
6D
7D MkII

Older Canon cameras without  independant adjustment of the short and long end of zoom lenses.

1D Mk3
1D Mk4
1Ds Mk3
5D Mk2
7D
50D
70D

Nikon (AF Fine Tune)

D4
D4s
D5
D3
D3x
D3s
D300
D300s
D500
D600
D610
D700
D750
D800 (/E)
D810
D7000
D7100
D7200

Sony: AF Micro Adjustment

A900
A850
A6000
SLT-A77
SLT-A77 MkII
SLT-99

Olympus: AF Focus Adjust

Note: Olympus cameras facilitate independant adjustment of the short and long end of zoom lenses.

E-30
E-620
E-5
E-M1 (only when used with 4/3 lens adapter)

Pentax: AF Fine Adjustment

K20D
K2000
K200D
K-3 series
K-5
K-5 II
K-5 IIs
K7D
645D
645Z

from https://www.mtdhelp.com/hc/en-us/articles/205765060-Which-cameras-have-the-AF-MicroAdjustment-Oct-9-2016-

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Lễ hội văn hóa Nhật 2016

Có hai hoạt động đáng lưu ý tại Lễ hội văn hóa Nhật năm nay diễn ra từ 18 đến hết ngày 20.11.2016. Đó là thưởng lãm trà đạo và Vũ điệu Bon Odori.

Trà đạo của người Nhật được xem là một nghệ thuật. Trong phạm vi Lễ hội có thể họ không làm đầy đủ nhưng cũng đã phức tạp. Những ai nôn nóng khó có thể xem nghệ nhân thực hiện việc pha trà. Tất cả thao tác đều rất chậm rãi và được thực hiện bởi một lão bà bà.


Việc pha trà bắt đầu từ việc vệ sinh dụng cụ, lấy trà, kiểm tra nước nóng rồi mới tới việc khuấy lên như đánh trứng. Trà ở đây dưới dạng bột màu xanh. Mỗi phần trà là một thìa bột, một lượng nước nóng khoảng 30cc. Trà sau khi pha có thể là đặc (koicha) hoặc loãng (usucha). Ở đây họ pha loãng vì để pha đặc thì cần sự cầu kỳ hơn.

Người uống trà sẽ được mời ăn một cái bánh sau vài phút mới uống.


Ở Nhật Bản có rất nhiều điệu múa truyền thống, nhưng một trong những điệu múa nổi tiếng nhất ở đất nước này đó là điệu múa Bon Odori thường được tổ chức vào tháng 8 hàng năm. Ở đâu có người Nhật sinh sống đông đúc thì ở đó có lễ hội Bon.

Khi âm nhạc nổi lên, tiếng trống cái thúc giục thì những vòng tròn người trên sân khấu và quanh sân khấu bắt đầu di chuyển. Nhạc không thuộc thể loại kích động như disco nhưng rất sôi động và lôi cuốn. Tham gia nhảy múa ngoài những người Nhật, còn có sinh viên trường Kaizen Yoshida ở Việt Nam.

Một nhận xét ban đầu thiếu nữ Nhật sao ai cũng đẹp quá. Về sau mới biết đó chính là các thiếu nữ Việt nam được huy động trở thành con gái Nhật.

PQT
19.11.2016













Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Trái Đất được tạo nên bởi hai hành tinh gộp lại

Các nhà khoa học kết luận rằng Trái Đất được tạo nên bởi hai hành tinh gộp lại

Các nhà khoa học đã đi đến kết luận này sau nhiều nghiên cứ và thử nghiệm: Trái Đất thực chất là hai hành tinh gộp vào một sau một vụ va chạm cực kì lớn, lớn đến mức nó tạo ra Mặt Trăng trong quá trình ấy.

Trước đó, người ta vẫn tin rằng Mặt Trăng là một mảnh của một hành tinh có tên Theia, va quệt với Trái Đất trên đường bay của nó, một mảnh hành tinh lớn văng ra và bị hút bởi lực hấp dẫn của Trái Đất. Vì thế mà ta có Mặt Trăng của ngày hôm nay.

Giả thuyết này đúng nếu như thành phần của Mặt Trăng khác với Trái Đất, bởi nó là một phần của hành tinh Theia.


Nhưng những kết quả nghiên cứu đã cho ta thấy một sự thực khác. Sau khi các nhà khoa học tại Đại học California nghiên cứu kĩ những mẫu đất đá từ Mặt Trăng lấy về từ sứ mệnh Apollo, họ phát hiện ra rằng những mẫu đất ấy có những đồng vị oxy y hệt như địa chất trên Trái Đất.

Điều đó có nghĩa rằng, Theia và Trái Đất (xa xưa) va chạm mạnh tới mức chúng hợp nhất lại thành một hành tinh mới, và một mảnh vỡ lớn văng ra thành Mặt Trăng ngày nay.

“Chúng tôi không hề thấy một điểm khác biệt nào giữa đồng vị oxy trên Trái Đất và Trên Mặt Trăng. Chúng hoàn toàn giống nhau”, trưởng ban nghiên cứu, ông Edward Young cho biết.

“Theia dần dần hòa lẫn vào cả Trái Đất và Mặt Trăng. Đó là lý do vì sao ta không tìm ra được sự khác biệt của Theia tại Mặt Trăng so với Trái Đất”, vị giáo sư ngành địa hóa học và hóa học vũ trụ này cho biết.

Giáo sư Edward Young.
Những dự đoán của các nhà khoa học cho thấy Theia va chạm với Trái Đất khoảng 4,5 tỷ năm trước, khoảng 100 triệu năm sau khi Trái Đất thành hình.

Trước đây, người ta đã nghĩ rằng Theia va chạm với Trái Đất ở một góc 45 độ hoặc hơn. Các nhà khoa học đã gọi nó là một “cú sượt sườn cực mạnh”.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích mẫu đá lấy từ Mặt Trăng trong các sứ mệnh vũ trụ Apollo 12, 15 và 17 so sánh chúng với các mẫu đá núi lửa ngay tại Trái Đất này – năm mẫu từ Hawaii và một mẫu từ Arizona.

Điểm mấy chốt để tái tạo lại cú va chạm cực mạnh ấy chính là những dấu vết hóa học trong nguyên tử oxy của đá. Ta có hơn 99,9% oxy trên Trái Đất là O-16, với mỗi nguyên tử gồm 8 proton và 8 neutron.

Nhưng bên cạnh đó, có một phần nhỏ những đồng vị oxy nặng hơn đó là O-17, nhiều hơn O-16 một neutron và O-18, nhiều hơn 2 neutron.

Năm 2014, một đội ngũ các nhà khoa học Đức đưa ra một bản báo cáo nghiên cứu rằng Mặt Trăng có một tỉ lệ đồng vị đặc biệt, khác với Trái Đất. Nhưng nghiên cứu mới này cho thấy báo cáo của các nhà khoa học Đức đã sai.

Đá Mặt Trăng từ sứ mệnh Apollo 17.
Lần này, đội ngũ nghiên cứu của giáo sư Young đã sử dụng những công nghệ hiện đại nhất, những kỹ thuật tiên tiến và chính xác nhất để đưa ra những tính toán cẩn thận và được xét duyệt kĩ càng.

Giáo sư Young còn bổ sung thêm rằng Theia đã có cơ hội phát triển thành một hành tinh trọn vẹn, nếu như không xảy ra vụ va chạm cực lớn kia. Giờ đây, Theia đã trở thành một phần của Trái Đất và Mặt Trăng.

Các nhà khoa học ước tính rằng Theia có kích cỡ gần giống với Trái Đất, trước đây người ta cho rằng nó gần với kích cỡ Sao Hỏa hơn.

Giả thuyết về một sự va chạm lớn giữa hai hành tinh non trẻ này được đề xuất năm 2012 bởi nhà nghiên cứu Matija Cuk. Giờ đây, ta đã có được những bằng chứng về việc Trái Đất này được tạo nên bởi thành phần của một hành tinh nữa. Mảnh đất mà ta đang đứng đây thuộc về cả Trái Đất và Theia.

Tham khảo Telegraph
from soha

DxOMark Sensor scores

Three use cases (with one score for each) — Portrait, Landscape, and Sports — report on different aspects of sensor performance. Each use case score is associated with one defined image quality metric as defined below:

Portrait photography: Color Depth

Flash studio photography involves a controlled and usually maximal amount of light. Even when shooting with hand-held cameras, studio photographers rarely move from the lowest ISO setting. What matters most when shooting products or portraits is to aim for the richest color rendition.

The best image quality metric that correlates with color depth is color sensitivity. Color sensitivity indicates to what degree of subtlety color nuances can be distinguished from one another, often meaning a hit or a miss on a pantone palette. Maximum color sensitivity reports, in bits, the number of colors that the sensor is able to distinguish.

The higher the color sensitivity, the more color nuances that can be distinguished. As with dynamic range, color sensitivity is greatest when ISO speed is minimal, and falls rapidly with rising ISO settings. DxO Labs has focused on measuring only maximum color sensitivity.

A color sensitivity of 22bits is excellent, and differences below 1 bit are barely noticeable.


Landscape photography: maximum Dynamic Range

Landscape photographers often carefully compose their images and choose the optimal time to shoot. This type of photography commonly involves mounting the camera on a tripod and using the lowest possible ISO setting to minimize noise, thus maximizing image quality.

Unless there is motion, relatively long shutter speeds are not an issue with a tripod. What is paramount is dynamic range, especially because photographers will often aim for detail in high-contrast settings, juxtaposing bright sky with shadowy foliage, mountains, etc. Ideally, the dynamic range of the camera should be greater than the dynamic range of the scene, otherwise details in shadows are lost or highlights are burned.

Dynamic range falls rapidly with higher ISO settings, as any analog or digital amplification performed will increase the noise in the darker areas, making it harder to distinguish between fine levels of contrast.

Maximum dynamic range is the greatest possible amplitude between light and dark details a given sensor can record, and is expressed in EVs (exposure values) or f-stops, with each increase of 1 EV (or one stop) corresponding to twice the amount of light.

Dynamic range corresponds to the ratio between the highest brightness a camera can capture (saturation) and the lowest brightness it can capture (typically when noise becomes more important than the signal, i.e., a signal-to-noise ratio below 0 dB).

A value of 12 EV is excellent, with differences below 0.5 EV usually not noticeable.

This scale is open, as incoming light is not a bounded quantity.

Sports & action photography: Low-Light ISO

Unlike the two previous scenarios in which light is either generous (studio) or stability is assured (landscape), photojournalists and action photographers often struggle with low available light and high motion. Achieving usable image quality is often difficult when pushing ISO.

When shooting a moving scene such as a sports event, action photographers’ primary objective is to freeze the motion, giving priority to short exposure time. To compensate for the lack of exposure, they have to increase the ISO setting, which means the SNR will decrease. How far can they go while keeping decent quality? Our low-light ISO metric will tell them.

The SNR indicates how much noise is present in an image compared to the actual information (signal). The higher the SNR value, the better the image looks, because details aren't drowned by noise. SNR strength is given in dB, which is a logarithmic scale: an increase of 6 dB corresponds to doubling the SNR, which equates to half the noise for the same signal.

An SNR value of 30dB means excellent image quality. Thus low-light ISO is the highest ISO setting for a camera that allows it to achieve an SNR of 30dB while keeping a good dynamic range of 9 EVs and a color depth of 18bits.

A difference in low-light ISO of 25% represents 1/3 EV and is only slightly noticeable.

As cameras improve, low-light ISO will continuously increase, making this scale open.

from DxOMark

Chân dung : độ sâu màu, càng nhiều màu càng đẹp
Phong cảnh : độ tương phản, càng tương phản càng đẹp
Thể thao : độ nhạy chụp thiếu sáng, càng cao càng đẹp

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

Photoshop và Lightroom

Đối với những người mới bắt đầu nghiệp nhiếp ảnh thường có chung một nỗi băn khoăn là “nên sử dụng chương trình gì để chỉnh sửa hình ảnh?” Hiện có rất nhiều lựa chọn miễn phí cho mục đích này như iPhoto, Picasa, GIMP, và các chương trình thương mại trả tiền khác như AfterShot Pro và Pixelmator. Tuy nhiên những phần mềm phổ biến nhất khi nói đến chỉnh sửa hình ảnh phải kể đến Photoshop và Lightroom.


Photoshop và Lightroom là hai chương trình đều được phát triển bởi Adobe cùng phục vụ một mục đích chính, giữa chúng chia sẻ với nhau rất nhiều điềm tương đồng và đã được sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhiếp ảnh gia. Vậy điểm khác nhau cơ bản giữa hai phần mềm này là gì? Hiểu rõ những điểm tương đồng, nắm chắc được những nét khác khau sẽ có thể giúp bạn có được lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình.


Tương đồng

Nhìn chung mục đích của cả hai chương trình không ngoài việc chỉnh sửa hình ảnh. Cách chúng xử lý công việc cũng như cách để sử dụng chúng mới là điểm khác biệt, nhưng nếu bạn chỉ đơn giản là tìm kiếm một phần mềm cho phép tinh chỉnh, nâng cao hiệu quả, chất lượng hình ảnh ở một mức độ nào đó, một trong hai phần mềm này đều đáp ứng được yêu cầu. Cả hai đều có khả năng xử lý nhiều loại tập tin như: JPEG, PNG, TIFF, và một định dạng được nhiều nhiếp ảnh gia ưu ái đó là: RAW.

Trong thực tế cả Photoshop và Lightroom sử dụng hệ thống Adobe Camera Raw (ACR) để xử lý file RAW. Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể có các điều khiển và các tùy chọn chỉnh sửa tương tự trong cả hai chương trình khi làm những việc như điều chỉnh độ bão hòa, xử lý với những đường cong hay điều chỉnh biến dạng thấu kính.

Cả hai chương trình đều sở hữu đầy đủ các công cụ chỉnh sửa và thao tác cho phép bạn làm tất cả mọi thứ từ chỉnh sửa cơ bản như cắt và điều chỉnh độ phơi sáng hay những thay đổi nâng cao như brushes,.v.v

Bạn sẽ tìm thấy một loạt các hiệu ứng tích hợp sẵn trong cả hai chương trình cho phép áp dụng ngay để chỉnh sửa hình ảnh tạo phong cách đen trắng, nâu đỏ và nhiều phong cách khác.

Cả Photoshop và Lightroom đều được đánh giá là chương trình biên tập hình ảnh khá mạnh mẽ. Nhiều nhiếp ảnh gia đã chỉ sử dụng duy nhất Lightroom và không bao giờ chạm vào Photoshop, bên cạnh đó cũng nhiều người lại dành cả ngày để dùng Photoshop và không bao giờ dùng đến Lightroom. Tuy nhiên để hiểu những gì tốt nhất để dành cho mình hãy cùng tìm hiểu những gì khác biệt giữa hai chương trình này.

Khác biệt # 1: Xử lý File

Một trong những điểm quan trọng nhất khiến Lightroom khác Photoshop đó là nó không thực sự chỉnh sửa hình ảnh, cũng như không chuyển hình ảnh của bạn đến các địa điểm khác nhau trên máy tính. Thay vào đó tất cả những thay đổi bạn thực hiện được lưu giữ trong một tập tin riêng biệt gọi là Catalog.

Khi bạn thực hiện một số chỉnh sửa, về cơ bản Lightroom giữ một bản ghi các thay đổi trong cơ sở dữ liệu, hình ảnh gốc vẫn được giữ nguyên vẹn như ban đầu.


Hình ảnh khi đã hoàn thành việc chỉnh sửa trong Lightroom có thể được xuất ra, để in, chia sẻ hoặc upload trực tuyến. Còn tập tin ban đầu nhờ vẫn được giữ nguyên nên bạn hoàn toàn có thể quay lại chỉnh sửa bất cứ khi nào muốn. Đó là một kỹ thuật gọi là chỉnh sửa không phá hủy, điều này hoàn toàn trái ngược với cách hoạt động của Photoshop.

Một lợi ích của phương pháp này là bản thân catalog chiếm dung lượng không lớn, thường chỉ một vài trăm MB trên ổ cứng của máy tính ngay cả khi bạn có đến vài ngàn hình ảnh trong Lightroom.

Sơ đồ hoạt động của Lightroom: Các chỉnh sửa được lưu trữ trong các tập tin Catalog và ảnh gốc ban đầu không hề bị ảnh hưởng.

Cách hoạt động của Photoshop lại có sự khác nhau đáng kể. Khi bạn chỉnh sửa một hình ảnh như JPG, PNG, hoặc tập tin RAW trong Photoshop, bạn luôn thực hiện trên chính file gốc, trừ khi bạn lưu một bản sao dưới dạng một tập tin PSD Photoshop mà thường có kích thước đến vài chục MB. File PSD này có tất cả các thay đổi được thực hiện trên bức ảnh, nếu muốn chia sẻ hình ảnh đã sửa cần phải lưu dưới dạng thức như JPG, PNG,v.v. Tóm lại về bản chất, nếu bạn muốn thực hiện “chỉnh sửa không phá hủy” trong Photoshop, cuối cùng bạn sẽ có đến 3 tập tin riêng biệt: file RAW gốc, một file PSD, và bản cuối cùng được lưu bằng một định dạng khác từ PSD.


Như vậy hai quá trình cho thấy sự khác biệt lớn. Trong Lightroom tất cả các thay đổi sau khi chỉnh sửa trên bức ảnh được lưu trong một catalog có kích thước tương đối nhỏ. Trong Photoshop, nếu thực hiện với nhiều tập tin, ổ cứng sẽ tốn khá nhiều dung lượng.


Vậy bạn muốn chọn sử dụng Photoshop hay Lightroom?

Khác biệt # 2: Công cụ chỉnh sửa

Gần một thập kỷ trước Adobe nhận ra rằng không phải ai cũng cần đến tất cả khả năng của Photoshop, đặc biệt là các nhiếp ảnh gia, những người luôn có đến hàng trăm thậm chí cả ngàn bức ảnh muốn chỉnh sửa một cách nhanh chóng.

Với Photoshop, có thể nhu cầu thực sự của nhiếp ảnh gia trong việc chỉnh sửa hình ảnh cơ bản chỉ chiếm khoảng 10% các tính năng mà phần mềm này cung cấp. Bởi vậy Lightroom ra đời để khắc phục và đáp ứng nhu cầu đó.

Photoshop là phần mềm chứa hàng loạt các filter, brushes và các công cụ khác cho phép bạn thực hiện tất cả các chỉnh sửa và thay đổi hình ảnh của mình.


Hơn thế nữa, Photoshop cho phép bạn tạo ra các layer mà tại đó các chỉnh sửa của bạn thực sự diễn ra. Hình minh họa bên trên cho thấy rất nhiều layer được tạo ra với những chỉnh sửa độc lập khác nhau. Điều này là một thử thách cho những ai mới bắt đầu, đặc biệt không phổ biến cho những nhiếp ảnh gia phải sử dụng hàng chục layer khi chỉnh sửa hình ảnh.

Ngược lại, Lightroom mặc dù có tính chất đơn giản khi không sử dụng các layer, nhưng ít các công cụ chỉnh sửa hơn và cũng ít tính linh hoạt (hình dưới).


Mặc dù cả hai chương trình đều cho phép back lại các thao tác chỉnh sửa, nhưng việc làm việc với các layer trên Photoshop cho bạn kiểm soát tốt hơn cách bạn chỉnh sửa hình ảnh của mình.

Tất cả các tùy chọn và tính năng (bao gồm hỗ trợ văn bản, đồ họa 3D, và thậm chí cả video) của Photoshop là rất lý tưởng cho hầu như bất kỳ tình huống chỉnh sửa ảnh nào, mặc dù nó phức tạp nhưng những gì mang lại cũng rất đáng “đồng tiền bát gạo”. Lightroom mang đến sự tiện dụng và giản đơn, chắt lọc những công cụ được các nhiếp ảnh gia sử dụng nhiều nhất, chính vì vậy đây là lí do cho lời khuyên sử dụng Lightroom đối với những ai đam mê nhiếp ảnh.

Khác biệt # 3: Quy trình làm việc

Bỏ qua vấn đề về các tính năng và tùy chọn tập tin, con át chủ bài khiến Lightroom vượt trội so với người anh lớn Photoshop của nó liên quan đến những giải pháp đầu cuối cho công việc của các nhiếp ảnh gia.

Từ khi phần mềm này được thiết kế phục vụ mục đích chính cho những người đam mê nhiếp ảnh, nó xử lý tất cả mọi thứ từ việc nhập ảnh từ thẻ nhớ của máy ảnh, đến tổ chức, chỉnh sửa, chia sẻ, và cuối cùng là in ảnh. Lightroom cũng hỗ trợ các từ khóa và các thư mục ảo để giúp bạn theo dõi các hình ảnh của mình, bạn thậm chí có thể sử dụng nó để tạo ra một slideshow hoặc cuốn sách ảnh. Nhiều nhiếp ảnh gia, ngay cả các chuyên gia có khi “quên mất” Photoshop, vì Lightroom đã chăm sóc tất cả mọi thứ mà họ cần.

Module Thư viện Lightroom của cho phép bạn nhanh chóng phân loại, sắp xếp và quản lý tất cả các bức ảnh của bạn.
Ngược lại,  Photoshop không có chức năng chuyển các tập tin, không tổ chức sắp xếp các hình ảnh của bạn, và chắc chắn không thể làm slide show hay sách ảnh. Nhưng một điều cần khẳng định, không có gì có thể so sánh với photoshop về sức mạnh chỉnh sửa hình ảnh. Có lẽ bởi vậy mà Adobe dường như muốn hướng Photoshop dành cho công việc xử lý đồ họa. Nếu bạn muốn vừa có một số tính năng như Lightroom kể trên khi dùng Photoshop thì có thể sử dụng thêm Adobe Bridge.

Nhiều người thậm chí còn sử dụng đồng thời cả hai chương trình: Lightroom để nhập ảnh từ máy ảnh và thực hiện một số chỉnh sửa cơ bản và sau đó sử dụng Photoshop để thêm một số chỉnh chuyên sâu hơn.

Còn bạn, bạn dùng phần mềm nào? Hãy dựa trên nhu cầu và mục đích sử dụng, bạn có thể sẽ chọn một chương trình hỗ trợ mình đắc lực nhất. Lightroom sẽ vẫn là một phần mềm đáng dùng nhất và đáp ứng được yêu cầu và đặc biệt nó sẽ gọn nhẹ hơn nhiều so với Photoshop. Hy vọng bài viết này có thể mang đến bạn một cái nhìn rõ hơn về hai phần mềm nổi tiếng này.

Van.vn (Theo Digital Photography School)